Bài 29: The ‘Mary Celeste’ 2

Từ Nghĩa tiếng việt Phát âm
abandon từ bỏ
barrel thùng
disease bệnh
emergency tình trạng khẩn cấp
giant người khổng lồ
fungus nấm
interrupt ngắt lời
medieval thời trung cổ
monster quái vật
overturn lật đổ
mutiny cuộc binh biến
tornado bão táp

Grammar notes

  1. Verb pattern S + V + to-infinitive
  2. Speculating about the past (2) (Xem lại bài 25 và 27).

Expressions

to do 150 kph: chạy 150 km/giờ.

to boil over: sôi trào ra.

Bài 1:

What do you think happened?

Sarah I don’t know what happened, but it must have happened suddenly.

Mark Why do you think that?

Sarah Think about it. There were toys on the captain’s bed, weren’t there? The child must have been playing, and they must have interrupted her suddenly.

Mark Yes, that’s true. And the food was on the table. They must have been eating, or getting ready to eat.

Sarah I’ll tell you my theory. The lifeboat was missing, right? They could have been practising their emergency drill. They must have got into the boat, and launched it.

Mark All right, but what happened to the boat?

Sarah Ah! They may have been rowing the lifeboat round the ship, and there must have been a gust of wind, then the ship could have moved forward and run down the lifeboat. That explains the marks on the bows!

Mark Come on! They can’t all have been sitting in the lifeboat. What about the captain? He should have been steering the ship!

Sarah Ah, he might have been watching the drill, and jumped in to save the others!

Sarah (S): Tôi không biết rõ điều gì đã xảy ra, nhưng ắt điều đó phải xảy ra đột ngột lắm.

Mark (M): Sao bạn lại nghĩ vậy?

S: Thử nghĩ xem. Có đồ chơi trên giường thuyền trưởng, phải không nào? Ăt hẳn là đứa bé đang chơi và người ta đã thình lình ngăn nó lại.

M: Ừ, đúng đấy. Và còn thức ăn trên bàn nữa chứ. Ăt hẳn là người ta đang ăn hoặc sắp sửa ăn.

S: Để tôi nói cho bạn nghe giả thuyết của tôi. Xuồng cứu mạng không còn nữa, đúng không nào? Có thể họ đã thực tập tình huống khẩn cấp. Họ lao xuống xuồng và họ hạ nó xuống biển.

M: Cứ cho là vậy đi, nhưng chuyện gì đã xảy ra với chiếc xuồng?

S: A! Có thể họ chèo xuồng quanh con tàu, và chắc là có một cơn gió mạnh làm cho con tàu giạt về phía trước và làm cho xuồng chìm. Điều này giải thích các vết cắt trên mũi tàu!

M: Thôi đi! Họ đâu có thể nào ngồi cả trên xuồng cứu mạng được. Thế còn thuyền trưởng thì sao? Lẽ ra ông ta phải lái tàu chứ!

S: Ư, có thể ông ta theo dõi cuộc diễn tập và nhảy xuống biển để cứu những người khác.

Some possible explanations of why the crew abandoned the ship.

Amazingly, all of these have been suggested at some time.

  1. There was water in the hold. The crew panicked and abandoned the ship because they thought it was going to sink.(Why? The captain was very experienced, and the ship was in good condition. The water-pumps were working.)
  2. The child fell into the sea. The mother jumped in to save her. They launched a lifeboat to rescue her. (All of them? Why?)
  3. One of the barrels of alcohol was damaged. Perhaps there was a small explosion. The hatch cover was off, either because of the explosion or to let the gas escape. They thought all the cargo might explode. (But not much evidence of an explosion.)
  4. The last log entry was 1000 km west, near Santa Maria Island. Maybe the ship was in danger of running aground on the island. The crew left the ship in a storm.(How did the ship continue in a straight line for eleven days?)
  5. There was no wind, so they got into the lifeboat to tow the ship. The rope broke.(Why were the woman and the children in the lifeboat? Surely the ship was too heavy?)
  6. They saw an island which was not on the map, and when to investigate. (All of them?)
  7. One of the crew had a terrible, infectious disease. The others left to escape from it. The one with the disease killed himself.

Một vài điều có thể giải thích về việc con tàu bị bỏ lại

Thật ngạc nhiên là tất cả những lời giải thích này đều được đưa ra tại một thời điểm nào đó.

  1. Có nước ở trong khoang tàu. Những người thủy thủ đã rất hoảng sợ và để lại con tàu bởi họ nghĩ nó sẽ chìm. (Vì sao ư? Thuyền trưởng là một người dày dạn kinh nghiệm, và con tàu vẫn ở tình trạng tốt. Ống bơm nước vẫn hoạt động.)
  2. Đứa trẻ rơi xuống biển. Người mẹ nhảy xuống để cứu. Họ đã đưa cho 2 mẹ con một cái xuồng để cứu người mẹ. (Tại sao không phải tất cả?)
  3. Một thùng rượu bị bể. Có thể là do nổ nhẹ. Cửa hầm tàu mở ra, hoặc do vụ nổ, hoặc để khí ga thoát ra. Họ nghĩ rằng hàng hóa có thể sẽ nổ. (Nhưng không có nhiều bằng chứng cho vụ nổ.)
  4. Cổng vào cuối cách 1000km về phía Tây, gần hòn đảo Santa Maria. Có thể con tàu ở nguy cơ bị mắc cạn. Phi hành đoàn đã bỏ lại con tàu trong bão. (Làm sao con tàu có thể tiếp tục trôi dạt theo đường thẳng trong vòng 11 ngày?)
  5. Không có gió, họ phải di chuyển sang xuồng cứu hộ để kéo con tàu. Dây thừng đứt. (Vì sao lại có 1 người phụ nữ và trẻ em ở trên xuồng cứu hộ? Con tàu hẳn rất nặng?)
  6. Họ nhìn thấy hòn đảo mà lại không thấy trên bản đồ, và bắt đầu điều tra. (Tất cả ư?)
  7. Một người trong đoàn mắc một chứng bệnh kinh khủng lây lan. Những người còn lại phải bỏ đi để tránh. Người đó đã tự sát.

What about lifeboat?

If the crew left the ship by lifeboat, what the happened to them?

  1. It could have sunk in a storm.
  2. The ship itself could have run down the lifeboat.
  3. It could have drifted away, and all of them could have died of hunger and thirst.
  4. They might have reached land. They were robbed and killed there.
  5. A whale or sharks might even have overturned the boat!

Thế còn chiếc tàu cứu hộ?

Nếu như đoàn đã bỏ chiếc tàu để lên tàu cứu hộ, vậy điều gì đã xảy ra với họ?

  1. Có thể con tàu đã chìm trong bão.
  2. Có thể đã hết xuồng cứu hộ.
  3. Có thể nó đã bị trôi đi, và tất cả bọn họ có thể đã chết vì đói và khát.
  4. Có thể họ đã đến đất liền. Bị cướp và giết.
  5. Cá voi hay cá mập đã lật đổ xuồng cứu hộ!

One, or of them, went mad.

  1. They drank some of the commercial alcohol. There was a fight. Some were killed, the others left. (But commercial alcohol is very poisonous.)
  2. The cook was crazy and poisoned everybody. Then they killed himself after throwing the bodies into the sea.
  3. The captain had an attack of religious mania, killed everybody, then himself.
  4. There was a fungus called “ergot” in the bread. This is a fungus which can grow on rye bread. It is very similar to the drug LSD. Whole villages has been poisoned in this way in medieval Europe.

Một trong số họ phát điên.

  1. 1. Họ đã uống rượu thương phẩm. Có đánh lộn. Một vài người bị giết, số còn lại bỏ đi. (Nhưng rượu cồn thương phẩm rất độc.)
  2. Đầu bếp bị điên và hạ độc tất cả. Và tự sát sau khi ném những thi thể xuống biển.
  3. Thuyền trưởng lên cơn điên, giết tất cả mọi người, rồi tự sát.
  4. Có một loại nấm tên là “ergot” trong bánh mì. Loại nấm này có thể phát triển trong bánh mì đen. Rất giống với ma túy. Cả làng bị hạ độc bằng cách này ở thời Trung cổ châu Âu.

Crime

  1. The “Dei Gratia” attacked the “Mary Celeste” and killed everybody.
  2. Pirates attacked and killed them.
  3. There was a mutiny (a revolution against the captain of a ship). Two of the crew were criminals. There was a fight. Some were killed. The others left.
  4. Mrs Briggs fell in love with one of crew. Again there was a fight.
  5. The crew of the “Mary Celeste” attacked and robbed another ship, and left on the other ship with its cargo. (Which other ship? There are no records?)
  6. They found an abandoned ship with a valuable cargo, and stole it.
  7. Captain Briggs and Captain Moorhouse planned everything together, for the salvage money. The ship was never abandoned. None of the story was true.

Tội ác

  1. Con tàu Dei Gratia tấn công con tàu Mary Celeste và giết chết tất cả.
  2. Cướp biển tấn công và giết hại họ.
  3. Có một cuộc nổi dậy (một cuộc cách mạng chống lại thuyền trưởng). 2 trong số họ là tội phạm. Có đánh nhau. Một vài người chết. Những người khác đã bỏ đi.
  4. Bà Briggs yêu một người trong đoàn. Và đã xảy ra đánh nhau.
  5. Đoàn trên thuyền “Mary Celeste” tấn công và cướp con tàu khác, sau đó đã bỏ sang con tàu khác cùng với hàng hóa. (Con tàu khác nào? Có được ghi nhận không?)
  6. Họ tìm thấy một con tàu bị bỏ lại với hàng hóa giá trị, và lấy cắp.
  7. Thuyền trưởng Briggs và thuyền trưởng Moorhouse đã lên kế hoạch tất cả, vì tiền cứu hộ. Con tàu không hề bị bỏ lại. Không có câu chuyện nào là thật.

Outside forces.

  1. A spaceship from another planet took everybody away.
  2. A giant wave knocked them all from the desk, or a tornado.
  3. A sea monster (a giant octopus or sea serpent) attacked the ship.
  4. Men living below the sea attacked the ship, when it passed over the old site of Atlantis.

Những thế lực bên ngoài

  1. Một con tàu vũ trụ từ hành tinh khác đã mang mọi người đi.
  2. Một làn sóng dữ dội đã khiến họ mắc kẹt ở trên tàu, hoặc là một cơn bão.
  3. Một con thủy quái (bạch tuộc khổng lồ hoặc rắn biển) đã tấn công con tàu.
  4. Những người dưới biển đã tấn công con tàu, khi nó đi qua ranh giới Đại Tây Dương.